Làng dệt the lụa La Khê

Làng dệt the lụa La Khê là làng nghề cổ với nghề dệt the, làng có tên trong tập "Tứ quý danh hương", trải qua bao thăm trầm làng vẫn tồn tại và phát triển cho đến tận ngày này.

Địa chỉ:Làng La Khê, phường La Khê, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

Lịch sử hình thành

Làng La Khê được hình thành từ thế kỷ thứ 5, ban đầu làng không có tên là La Khê, mà là La Ninh ("La" là lụa, "Ninh" là sự thịnh vượng, lâu bền). Sang thế kỷ 15, làng La Ninh mới đổi tên thành La Khê (tức là làng dệt lụa bên dòng sông nhỏ).

Ban đầu, sản phẩm dệt của làng La Khê còn thô sơ, chủ yếu là sồi, đũi, phục vụ cho nhu cầu của cư dân Thăng Long xưa. Ðến đầu thế kỷ 17, khi người Hoa ở vùng Lưỡng Quảng (Trung Quốc) di cư sang Việt Nam mang theo nghề dệt thủ công. Trong số đó, mười gia đình người Hoa đã đến lập nghiệp ở đất La Khê, đem nghề dệt the, sa nhuộm đen và công nghệ dệt tiên tiến dạy lại cho dân làng. Thời đó, hầu hết dân làng La Khê đều sống bằng nghề canh cửi. Các sản phẩm the, sa, vân, địa, quế, gấm vóc của La Khê với những họa tiết, hoa văn tinh xảo dần thay thế sồi, đũi nhờ chất lượng được nâng cao như mỏng, nhẹ hơn nhưng lại rất bền và đẹp, được các tầng lớp quý tộc ưa chuộng.

Đầu thế kỷ 19, làng La Khê cùng với các làng La Nội, Ỷ La, La Tinh, Yên Lộ, Nghĩa Lộ đều thuộc tổng La Nội huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây. Tới năm 1831, La Khê (cùng cả tổng La Nội) được chuyển về thuộc huyện Từ Liêm phủ Hoài Đức tỉnh Hà Nội.

Năm 1823, triều đình nhà Nguyễn ra sắc lệnh lập La Khê thành một xưởng dệt cho kinh thành Huế, đồng thời cho cả làng được miễn đi lính để tập trung cho việc phát triển làng nghề[1]. Khoảng những năm 1840 thời vua Thiệu Trị, xưởng dệt làng La Khê gọi là Chức tạo cục, hàng năm phải sản xuất và cung cấp cho triều đình theo định mức 600 tấm sa màu[3]. Chợ Cầu Ðơ với một tháng sáu phiên là nơi người dân trong làng bán buôn, để từ đó thứ sản phẩm cao cấp này đi khắp đất nước.

Kể rằng vào đời vua Minh Mạng (1820-1841), có viên cai đội mãn hạn lính nhà Nguyễn, tên là Trần Quý, tìm thấy được mảnh gấm nước ngoài dệt tinh xảo, liền mày mò nghiên cứu xem xét, tìm ra được bí mật trong cách dệt gấm vóc của nước ngoài, bèn cùng một số thợ bạn trong làng bàn cách cải tiến việc dệt gấm vóc và cuối cùng nhóm thợ làng La Khê này đã dệt được một tấm gấm tinh xảo không kém tấm gấm mẫu. Từ đó, làng La Khê có thêm nghề dệt gấm, Trần Quý thành ông tổ dệt gấm của làng.

Nghề dệt the ở La Khê phát triển mạnh, không những cung cấp cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu sang châu Âu. Đầu thế kỷ 20, các nghệ nhân làng nghề còn được phong cửu phẩm, bá hộ, thêm vào đó the làng La còn được mang triển lãm ở thành phố Paris.

Sau năm 1954, do ảnh hưởng của chiến tranh, nghề dệt the tạm lắng, người dân làng La Khê quay sang dệt vải bông, khăn mặt, thảm đay theo kinh tế tập trung, phục vụ sinh hoạt trong thời chiến tranh Việt Nam.

Năm 2002, Làng nghề được khôi phục, nhiều nghệ nhân mày mò để giữ một nghề truyền thống của các bậc tiền nhân đi trước.

Làng La Khê xưa

Làng La Khê xưa

Cái khác biệt của làng lụa La Khê với làng lụa Vạn Phúc là: làng La Khê xưa chuyên nghề dệt sa màu và các thứ lụa bạch, lụa vân; còn làng cổ Vạn phúc thì nổi tiếng với thứ lụa gấm lâu đời (tương truyền có từ thời Cao Biền).

Nghề dệt the La Khê

Nghề dệt the đòi hỏi rất nhiều công phu, có mẫu hàng phức tạp tới mức mất nửa năm mới dệt xong, nhanh nhất cũng phải 2-3 tháng. Vẽ hoa để dệt được coi là một trong những công đoạn khó nhất của nghề bởi không chỉ như vẽ một bức tranh, người vẽ mẫu để dệt phải tính toán từng đường nét sao cho cân đối, lúc dệt lên tấm the không bị xô, bị dạt. Có những trường hợp, người thợ dệt the ở La Khê phải vào tận Cố đô Huế xem các mẫu dệt để về khôi phục lại.

Đến nay, những người thợ dệt the La Khê đã sáng tạo ra hơn 20 mẫu hoa văn để dệt thành những tấm vải the hoa, trong đó có không ít những mẫu hoa văn cầu kỳ, với họa tiết cách điệu những hình tượng văn hóa dân gian như "tứ linh" (long, ly, quy, phượng), "tứ quý" (tùng, cúc, trúc, mai) hay hình song hạc, mây trời, hoa sen, chữ thọ.

Năm 2007, sản phẩm the La Khê được trao Cúp vàng thương hiệu Việt tại Triển lãm Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Ðây là sự ghi nhận sự hồi sinh của làng nghề truyền thống.